Bản in
 
Phải đột phá trong phát triển kinh tế biển
Tin đăng ngày: 10/3/2014 - Xem: 3297
 
 

Đã đến lúc cần có những đột phá mới trong tư duy và chiến lược phát triển kinh tế biển. Phải chuyển nhanh từ phương thức “mò cua bắt ốc” sang phương thức kết hợp: khai thác mặt tiền (biển – lợi thế địa chiến lược) + tự do hóa (thể chế vượt trước). Đây là công thức thành công của nhiều quốc gia đi trước trong nỗ lực phát triển kinh tế biển để trở thành cường quốc biển.

1. Tiếp cận chiến lược kinh tế biển

Kinh tế biển của Việt Nam phát triển với hai lợi thế quan trọng.

Một là tiềm năng tự nhiên (lợi thế tĩnh) to lớn (bờ biển dài, diện tích lãnh hải thuộc chủ quyền rộng, khả năng tiếp cận dễ dàng đến các đại dương, có các nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có – thủy sản, dầu khí và nhiều loại khoáng sản khác, nhiều bãi biển đẹp, v.v.)(1).

Hai là vị trí địa - kinh tế và địa - chiến lược đặc biệt (nằm trên các tuyến hải hành và các luồng giao thương quốc tế chủ yếu của thế giới, nhất là trong thời đại bùng nổ phát triển của châu Á – Thái Bình dương)(2).

Tuy vậy, lâu nay, khi bàn đến lợi thế phát triển kinh tế biển của Việt Nam, sự chú tâm thường được dành cho loại lợi thế thứ nhất mặc dù loại lợi thế thứ hai đang ngày càng trở nên quan trọng do sự gia tăng nhanh chóng của quá trình toàn cầu hóa.

Trên thực tế, cách tư duy về lợi thế như vậy được phản ánh trong việc đầu tư cho nghiên cứu, cho việc phát triển năng lực và các lĩnh vực kinh tế biển cụ thể - tập trung cho các ngành khai thác tài nguyên biển - thủy sản, dầu khí, làm muối, v.v.- dưới dạng “thô”. Khai thác hàng hải, du lịch và cảng biển chưa phát triển, ở trình độ nhìn chung còn thấp. Nhiều loại tài nguyên biển quý báu khác, ẩn sâu trong lòng biển, dưới đáy đại dương, hoàn toàn chưa được khai thác, chưa nói đến những ngành “công nghiệp biển” dựa trên công nghệ cao.

Sự thiên lệch đó là kết quả tự nhiên, tất yếu của sự tiếp nối tư duy phát triển truyền thống, coi khai thác tài nguyên thô, dựa vào trình độ kỹ thuật, công nghệ thấp và những năng lực hạn chế là cách thức chủ đạo của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Với đặc trưng như vậy, cách tiếp cận phát triển kinh tế biển của Việt Nam hiện nay có hai thiếu sót lớn.

Một là xu hướng muốn vận dụng một cách đơn giản và dễ dãi tư duy phát triển nông nghiệp truyền thống – hay nói “riết róng” hơn – tư duy phát triển tiểu nông, gắn với “con trâu đi trước cái cày đi sau” - vào công cuộc phát triển kinh tế biển. Đó là cách thức khai thác biển theo lối “con cò lặn lội bờ sông”, “đánh bắt ven bờ”, không dám vươn ra biển khơi, không mang tư tưởng tìm kiếm và chinh phục đại dương. Về thực chất, đó là việc mang vác cách thức phát triển nông dân cổ truyền, làm ruộng trên cạn ra khai thác biển, chinh phục đại dương - một đối tượng khác căn bản về tính chất, về các điều kiện khai thác và mức độ rủi ro (phương thức, công cụ, gắn với những đòi hỏi về tri thức và công nghệ).

Hai là thiếu tư duy toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, chưa rõ tầm nhìn toàn cầu và thời đại trong công cuộc phát triển kinh tế biển trong bối cảnh hiện đại, trong khi cả thế giới đang đồng loạt tiến ra biển, chiếm hữu không gian biển, khai thác biển ở tất cả các loại hình, cấp độ và với những công cụ và phương thức hiện đại chưa từng thấy.

Với cách tiếp cận biển truyền thống như vậy, trong điều kiện của thế giới hiện đại, thật khó kỳ vọng đạt được những kết quả mang tính đột phá trong nỗ lực chinh phục biển thông qua việc triển khai chiến lược kinh tế biển đầu tiên của Việt Nam, đã được thông qua tại Hội nghị Trung ương Đảng 4 khóa X, năm 2007(3).

Để phát triển kinh tế biển, mở rộng một không gian phát triển mới, tăng cường một động lực phát triển hiện đại ở tầm chiến lược mạnh bậc nhất, Việt Nam cần có cách tiếp cận mới, khác căn bản cách tiếp cận phát triển kinh tế “đất liền”  truyền thống(4).

Hướng ra biển, phát triển kinh tế biển một cách chiến lược – như Nghị quyết về Chiến lược phát triển kinh tế biển xác định, trở thành một nhu cầu bức bức bách, đồng thời, là một cơ hội lớn cho sự trỗi dậy mang tính bùng nổ của Việt Nam.

Với Chiến lược phát triển kinh tế biển đã được xây dựng, cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên WTO, thế giới đang chuyển sang thời đại toàn cầu hóa (tự do hóa) và công nghệ cao, khi phát triển kinh tế biển được mọi quốc gia coi là một trọng tâm chiến lược hàng đầu, chúng ta cần tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, trong đó, việc “nạp” kinh tế biển ở một tầm nhìn mới vào mô hình tăng trưởng mới là một nội dung quan trọng.

2. Hiện trạng kinh tế biển: nhận diện thực lực

Hiện nay, về nguyên tắc, Việt Nam đã mở cửa hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhưng, đánh giá một cách thực chất, trong một thời gian dài, chúng ta mới chỉ chú trọng hướng mở cửa - lên núi bằng việc mở hàng loạt cửa khẩu và phát triển khu kinh tế cửa khẩu trên biên giới đất liền mà ít mở ra biển, qua các cảng biển.

Gần đây, mấy chục tỉnh sát biển đua nhau làm cảng biển, đã xây dựng gần một trăm cảng biển (xem bản đồ các cảng “chính”). Song động lực “vươn ra biển lớn” của phong trào rầm rộ này – rầm rộ đến mức đã trở thành “hội chứng” – thật sự không rõ ràng, bị chi phối bởi tư duy lợi ích dự án cục bộ thay vì một mục tiêu đua tranh phát triển lành mạnh và có tầm nhìn xa. Đó là bởi nền kinh tế vẫn theo đuổi mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên trên đất liền theo cách cũ, với công nghệ - kỹ thuật lạc hậu. Đến nay, mô hình đó đã “tận khai” năng lực “đất liền” của quốc gia.

Hiện nay, Việt Nam không tiến ra biển với “hành trang” thời Mai An Tiêm. Tư duy biển - chủ quyền lãnh hải, sự hiện diện, sự chinh phục, hợp tác quốc tế giải quyết tranh chấp, v.v. -; các định hướng phát triển biển theo nguyên lý hiện đại - phát triển ngành đóng tàu và hàng hải viễn dương, du lịch biển, thăm dò, khai thác biển, v.v. - đã bắt đầu định hình và được thực thi. Đó là những nền tảng ban đầu để hình thành một chiến lược biển với các nội dung cụ thể, khả thi, hay đúng hơn, các chiến lược kinh tế biển cụ thể (5) Chỉ với các chiến lược cụ thể đó, chúng ta mới trả lời được câu hỏi: Việt Nam sẽ vươn ra biển lớn như thế nào?

Nhưng đó chỉ mới là một mặt của vấn đề. Về khía cạnh thực lực, hai yếu tố nền tảng cơ bản của công cuộc chinh phục biển của Việt Nam – lực lượng doanh nghiệp và tiềm lực khoa học công nghệ - hãy còn rất yếu kém. Hình ảnh “hạm đội thuyền thúng ra khơi” mô tả một cách chính xác thực trạng đó. Nếu đo đếm sức mạnh kinh tế biển ở những khía cạnh cụ thể khác, có thể đánh giá thực lực cơ bản còn non yếu, manh mún, tự phát và trình độ thấp của hệ thống cảng biển, của ngành logistics, hệ thống đường giao thông dọc biển và đường kết nối cảng, ngành du lịch biển, các khu kinh tế biển, năng lực đánh bắt và chế biến hải sản, nguồn nhân lực kinh tế biển, v.v.

Có thể đưa ra một nhận xét tổng quát về sự phát triển kinh tế biển của Việt Nam với tư cách là một kết cấu mang tính hệ thống rằng mặc dù tiềm năng tự nhiên –điều kiện cần cho sự phát triển các ngành kinh tế biển – là tốt, song các điều kiện đủ để hiện thực hóa và thúc đẩy sự phát triển đó – bao gồm những yếu tố xác lập quỹ đạo phát triển hiện đại và cung cấp động lực phát triển kinh tế biển (như hệ thống hạ tầng cảng biển, giao thông, logistics, các khu công nghiệp và khu kinh tế gắn với kinh tế biển, các ngành khoa học và các hoạt động nghiên cứu liên quan, v.v.) – lại rất thiếu và yếu.

Tình trạng mất cân đối nghiêm trọng kéo dài giữa các điều kiện cần và điều kiện đủ như vậy giải thích tại sao hầu như tất cả những nơi “rừng vàng, biển bạc” của nước ta cho đến nay đều vẫn còn nghèo, hầu như cơ bản vẫn chưa thoát khỏi vạch xuất phát đói nghèo (poverty line) và chịu nhiều rủi ro phát triển. Thực trạng đó minh chứng cho việc theo đuổi quá lâu một chiến lược phát triển dựa chủ yếu vào khai thác và xuất khẩu tài nguyên, theo kiểu “ăn sẵn”, “ăn xổi”, tận thu các cơ hội ngắn hạn mà ít chú trọng việc tạo lập các điều kiện thúc đẩy, cải cách, hiện đại hóa các hoạt động kinh tế biển, phát triển và phát huy các lợi thế “động” của các ngành kinh tế biển để đạt giá trị gia tăng cao(6).

Nhận diện thực trạng phát triển kinh tế biển của Việt Nam theo cấu trúc tổng quát nói trên - để khỏi sa lầy vào việc kiểm đếm các năng lực và thành tích cụ thể hiện có -, có thể thấy rằng ở cả ba vùng không gian, ba loại hình phát triển, trình độ phát triển kinh tế biển của Việt Nam nhìn chung còn thấp, thấp đến mức nhiều chuyên gia nói Việt Nam cho đến nay cơ bản vẫn chỉ là một quốc gia ven biển hơn là một quốc gia biển, chưa nói đến “một cường quốc biển” như mong ước.

Trong bối cảnh thế giới đang bước vào thời đại toàn cầu hóa, được dẫn dắt bởi công nghệ cao và bị chi phối bởi hai thuộc tính – tự do hóa và tốc độ cao, cộng thêm vào đó là xu hướng tranh chấp và xung đột trên biển (biển Đông) tăng nhanh, những điểm yếu trên hàm nghĩa những thách thức to lớn cũng như những cơ hội tiềm tàng mà Việt Nam đối mặt trong nỗ lực phát triển kinh tế biển với những mục tiêu chiến lược to lớn, có thể nói là đầy tham vọng.

3. Định hình chiến lược kinh tế biển

3.1. Khuôn khổ chung

Mặc dù đến nay, chúng ta đã có những bước tiến quan trọng trong việc thiết kế và thực thi chiến lược kinh tế biển, song, về nguyên tắc, vẫn chưa định hình một tư duy phát triển mới, tổng thể về kinh tế biển. Để định hình tư duy mới này, có hai điểm cần lưu ý.

Thứ nhất, kinh nghiệm phát triển trên đất liền và theo tư duy “đất liền” nhiều năm của Việt Nam, cộng với thực tiễn phát triển kinh tế biển của nhiều nước đi trước cho thấy việc định hình chiến lược kinh tế biển cần được thực hiện đồng thời và tổng thể ở ba phương diện.
Một là khai thác vùng không gian biển (mặt biển, dưới biển và bầu trời trên biển);
Hai là khai thác vùng bờ biển (vùng duyên hải với các cảng biển, bãi biển, thành phố biển, khu kinh tế ven biển);

Ba là phát triển các lĩnh vực “hậu cần” cho kinh tế biển và các khu vực kết nối (các ngành phục vụ phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học – công nghệ biển, nguồn nhân lực cho kinh tế biển, kết nối tuyến du lịch đất liền, v.v.).

Ba phương diện này hình thành các khâu liên tục của một chuỗi phát triển cho bất cứ ngành kinh tế biển cụ thể nào. Thiếu một khâu bất kỳ nào, các ngành kinh tế biển cũng đều sẽ bị mất cân đối, khó vươn lên thành ngành hiện đại, hoạt động hiệu quả và có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Thứ hai, cùng với cách tiếp cận chuỗi (hệ thống tổng thể), cần chú ý nguyên tắc tập trung phát huy lợi thế trong phát triển. Với nguồn lực có hạn, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm trong chiến lược biển để ưu tiên thực hiện là một yêu cần bắt buộc đối với Việt Nam. Bắt buộc vì nó xuất phát từ sự hạn chế của các nguồn lực, buộc phải tập trung nguồn lực cho một số mục tiêu hạn chế nhằm tạo sự đột phá mạnh và sức lan tỏa rộng. Bắt buộc vì nó đáp ứng những yêu cầu mang tính sống còn trong cuộc cạnh tranh quốc tế cũng như những tranh chấp lãnh hải, đặc biệt là ở vùng biển Đông, đang trở nên ngày càng gay gắt hiện nay.

Thực chất của yêu cầu này là căn cứ vào điều kiện cụ thể và lợi thế hiện có – hiện nay, đối với nước ta, chủ yếu là lợi thế “tĩnh”, bao gồm các lợi thế về tài nguyên biển và lợi thế địa - kinh tế, lợi thế địa – chiến lược  - để lựa chọn điểm đột phá cụ thể cho từng lĩnh vực, ngành kinh tế biển. Việc thực hiện nó nhằm khắc phục tình trạng dàn trải, phân tán trong đầu tư phát triển kinh tế biển, gây lãng phí và kém hiệu quả.

3.2. Một số định vị tọa độ cụ thể của chiến lược kinh tế biển

a. Sự hiện diện để khẳng định chủ quyền

Thực lực hiện diện của Việt Nam trên các vùng biển và đại dương đã được xác lập và khẳng định, song chưa đủ mạnh.

+ Không dừng lại ở “chủ quyền lãnh hải” tại biển Đông, trong tầm nhìn hiện đại, Việt Nam cần đặc biệt chú ý đến việc khẳng định sự hiện diện đại dương (trên các vùng biển quốc tế) – là cách chứng tỏ năng lực khẳng định chủ quyền thực tế, năng lực chinh phục, vươn xa thực sự của Việt Nam; cũng là cách để thoát khỏi lối tư duy và phương thức sinh tồn “quay lưng ra biển”, “đánh bắt gần bờ”, thiếu ý chí và văn hóa chinh phục.

+ Muốn vậy, cần tập trung ưu tiên phát triển

i) lực lượng hàng hải viễn dương, đặt mục tiêu và lộ trình vươn lên thành một cường quốc hàng hải một cách khẩn trương, hiện thực khả thi;

ii) xác lập và tăng cường các tuyến bay qua các hành lang biển;

iii) củng cố và phát triển các đảo thuộc chủ quyền ở tất cả các khía cạnh khẳng định chủ quyền – không chỉ quân sự mà tập trung mạnh cho các khía cạnh chủ quyền dân sự: dân cư, kinh tế, văn hóa.

iv) Phát triển nhanh, mạnh du lịch biển đảo với tư cách là một hình thức hiện diện chủ quyền được thừa nhận quốc tế.

v) Hình thành một số dự án nghiên cứu, khai thác kinh tế biển, nhất là các dự án ở vùng biển xa, có tầm cỡ, chú trọng liên doanh với nước ngoài (các tập đoàn lớn) với những điều kiện thỏa đáng và đặt trong tầm nhìn chiến lược.

b. Đổi mới tư duy phát triển kinh tế bờ biển với các điểm nhấn sau:

-    Ưu tiên xây dựng một số cứ điểm phát triển chiến lược mạnh ven biển. Những cứ điểm này là các tổ hợp phát triển lớn bao gồm: đô thị biển + cảng biển lớn + khu kinh tế mở (hay khu kinh tế tự do).

Để làm được điều này, phải thoát khỏi cách tư duy chia đều các lợi ích phát triển từ ngân sách nhà nước cho các địa phương và các nhóm lợi ích lớn (ví dụ, coi phát triển cảng như là món “quả thực” mà Trung ương phải chia đều cho các địa phương hay các nhóm lợi ích), phải nhất quán xuất phát từ lập trường, quan điểm phát triển vì lợi ích quốc gia để nhanh chóng hình thành các đầu mối, các tọa độ đột phá lớn, phục vụ cho chiến lược quốc gia tổng thể chứ không phải vì lợi ích của từng địa phương hay lợi ích nhóm.

- Tư duy lại phương thức phát triển du lịch – nghỉ dưỡng ven biển để không xẩy ra khuynh hướng tận khai các tài nguyên du lịch sẵn có theo phương thức dễ dãi, ngắn hạn (chú ý học hỏi kinh nghiệm phát triển đầu tư du lịch của Trung Quốc). Đặc biệt chú ý xây dựng các trung tâm du lịch lớn tại những tọa độ có tài nguyên du lịch đặc sắc (ví dụ Hạ Long – Cát Bà, Phú Quốc – Côn Đảo – Bà Rịa-Vũng Tàu).

Cần lưu ý rằng bờ biển và các bãi biển Việt Nam chính là mỏ vàng lớn, là một trong những nội dung chính yếu tạo nên khái niệm “rừng vàng, biển bạc”. Ta đang khai thác một cách phung phí, ngắn hạn mỏ vàng này và gây ra những hệ lụy dài hạn không nhỏ. Điểm yếu chính là tư duy chiến lược. Cần chú ý cách khai thác bãi biển với tư cách là một trọng tâm ưu tiên quốc gia, không để xẩy ra những tranh chấp thể hiện sự tham lam ngắn hạn, sự ngu dốt tiểu nông kiểu như giưa một bên là khai thác cát, khai thác titan với một bên là băm nát bờ biển để làm resort chỉ phục vụ người giàu khi thế giới đã bước sang thế kỷ XXI.

c. Xây dựng sớm chiến lược đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, coi đây là một điều kiện cơ bản để xây dựng chiến lược tổng thể. Đặc biệt có các tiếp cận nhà nước mới đến sự sinh tồn và phát triển của dân cư các vùng duyên hải, bỏ lối tiếp cận đối phó thiên tai thụ động, dựa vào lòng từ thiện để thể hiện sự quan tâm quốc gia mà có chiến lược chủ động tạo nền tảng để đối phó và phát triển hiệu quả trong điều kiện thiên tai.

d. Phát triển nghiên cứu biển - đại dương, cả ở khía cạnh khoa học – công nghệ (phục vụ khai thác – chế biến) lẫn ở khía cạnh lối sống và văn hóa biển hiện đại, nhấn mạnh yêu cầu phát triển văn hóa, bản lĩnh chinh phục biển chứ không phải tư duy “kiếm chác”, “nương nhờ” biển.

***

Có nhiều vấn đề phải giải quyết để xây dựng và thực thi một chiến lược kinh tế biển hiện đại. Đặc biệt, trong môi trường cả thế giới cùng đồng loạt “nhảy xuống biển” để tìm kiếm không gian phát triển thì vấn đề biển càng trở nên phức tạp, ẩn chứa nhiều nguy cơ và rủi ro.

                                                                                                                                                     BBT tổng hợp

 
Chính sách ưu đãi đầu tư khác:
Ông lớn FDI “thúc” tăng trưởng kinh tế Việt Nam (2/10/2017)
Tham dự hội chợ Thương mại quốc tế thường niên Ấn độ lần thứ 37 (IITF-17) (11/9/2017)
Hà Tĩnh sẵn sàng tạo điều kiện tốt nhất để doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư (7/9/2017)
GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐẨY NHANH GIẢI NGÂN KẾ HOẠCH VỐN ĐẦU TƯ CÔNG (1/9/2017)
Nội dung công khai ngân sách đối với đơn vị dự toán ngân sách (24/8/2017)
NGHỊ QUYẾT VỀ DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH (18/8/2017)
Thêm nhiều doanh nghiệp Đài Loan tìm hiểu cơ hội đầu tư tại Hà Tĩnh (9/8/2017)
Thủ tướng chứng kiến Hà Tĩnh trao 4 văn bản hợp tác với các nhà đầu tư Đức (7/7/2017)
Hà Tĩnh ký ghi nhớ hợp tác đầu tư với các doanh nghiệp Đức (7/7/2017)
Formosa đã an toàn? (30/5/2017)
Nhà đầu tư Cộng hòa Liên bang Đức cụ thể hóa hoạt động đầu tư tại Khu kinh tế Vũng Áng (17/5/2017)
Thông báo chấm dứt hoạt động của 2 dự án tại KKT Vũng Áng (24/4/2017)
Thu hút FDI trước kỳ vọng mới (9/2/2017)
Tâm sự của nhà đầu tư Đức khi tìm kiếm cơ hội tại Việt Nam (17/1/2017)
Việt Nam là “điểm sáng” khu vực về thu hút đầu tư (10/1/2017)
 
Video Clips
Video
Liên kết Website
Hỗ trợ trực tuyến

TƯ VẤN ĐẦU TƯ, GIẤY PHÉP LAO ĐỘNG - 02393.868.939

Văn phòng Ban Quản lý KKT tỉnh Hà Tĩnh - 02393.891.962
Truy cập hôm nay: 1554
Tất cả: 5933787
Tra cứu thông tin Website
Trang chủ l  Giới thiệu  l  Tin tức  l  Đầu tư  l  Doanh nghiệp  l  Lao động - Việc làm  l  Quy hoạch  l  Thủ tục Hành chính  l  Hỏi đáp  l  Đầu tư  l Liên hệ
  TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA BAN QUẢN LÝ KHU KINH TẾ TỈNH HÀ TĨNH             
Cơ quan chủ quản: Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh                        
Địa chỉ: Xã Kỳ Lợi, Thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Tel: 02393.861.962; Fax: 02393.882.992